Đó là các bệnh: mạch vành, tai biến mạch máu não… Hiểu rõ
về chúng, chúng ta có thể có biện pháp phòng ngừa hoặc điều trị kịp thời.

Bệnh mạch vành

Các triệu chứng ban đầu của bệnh động mạch vành nhiều khi
rất mơ hồ, thường là bằng những cảm giác nặng ngực hay cơn đau thắt ngực bên
trái. Trong chuyên môn còn gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định. Cơn đau xuất
hiện khi xúc động, gắng sức và thường xuất hiện vào buổi sáng. Có thể kèm theo
cao huyết áp gây nhức đầu, chóng mặt, cảm giác khó thở.

Tần suất các cơn đau ngày càng tăng và cường độ cơn đau càng
ngày càng nặng và có thể đưa đến nhồi máu cơ tim cấp nếu không được điều trị
đúng và kịp thời. Tỉ lệ tử vong trong nhồi máu cơ tim cấp khá cao, nhất là
trong hoàn cảnh khả năng cấp cứu về tim mạch của nhiều bệnh viện ở Việt Nam còn
nhiều hạn chế do thiếu nhân lực, trang thiết bị và việc vận chuyển bệnh nhân từ
nơi ở đến bệnh viện cấp cứu còn nhiều hạn chế.

Bệnh tuy khá nặng, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa được.
Nhưng phải ngòng từ khi còn nhỏ, tức là ở tuổi thanh niên. Không nên ăn quá
nhiều chất béo, chất ngọt, giữ cho cơ thể một thể trạng lý tưởng, rèn luyện thể
dục thể thao, không hút thuốc lá, không ăn quá mặn. Nhất là giữ cho mình một
tâm hồn tươi trẻ không quá lo lắng, tránh mọi thứ stress trong cuộc sống.

Những người có yếu tố nguy cơ cao như gia đình có người bị
nhồi máu cơ tim, béo phì, đái tháo đường, cao huyết áp, xơ vữa động mạch… rất
cần đi khám bệnh định kỳ và điều trị tốt các bệnh nền để tránh nguy cơ nhồi máu
cơ tim cấp

Tai biến mạch máu não

Não là một trong những cơ quan nhận máu nhiều của hệ tuần
hoàn và các tế bào thần kinh là những tế bào nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy
nhất. Chỉ cần thiếu oxy 5 phút là các tế bào não sẽ chết và không có khả năng
hồi phục.

Các thể bệnh tai biến mạch máu não hay gặp nhất còn gọi là
đột quỵ bào gồm: co thắt mạch máu não, thiếu máu não thoáng qua, nhồi máu não,
vỡ mạch máu não… Và nặng nhất là xuất huyết ồ ạt gây ngập não thất làm cho bệnh
nhân tử vong trong vòng 1 – 2 giờ đồng hồ.

Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là bệnh nhân bị đau đầu dữ
dội, chóng mặt, tay chân yếu hoặc liệt và đi vào hôn mê. Khả năng phục hồi của
bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào thể tai biến. Ở những thể nặng, bệnh nhân hôn mê
sâu tỉ lệ tử vong lên đến trên 50%.

Việc đề phòng quan trọng nhất là phải phát hiện sớm bệnh cao
huyết áp và tình trạng xơ vữa động mạch, để điều trị tốt. Cần phải thận trọng
với những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao như tuổi trên 50, béo phì, hút thuốc
lá, đái tháo đường…

Bệnh động mạch ngoại biên

Động mạch ngoại vi là hệ thống gồm rất nhiều động mạch vừa
và nhỏ, có nhiệm vụ đưa máu từ tim đi nuôi các bộ phận của cơ thể. Đặc biệt là
tứ chi. Động mạch bao gồm 3 lớp: lớp áo ngoài, lớp áo giữa và lớp nội mạc. Bệnh
viêm tắc động mạch ngoại vi có hai thể: bệnh Buerger là tình trạng viêm của 3
lớp thành động mạch, xảy ra ở những bệnh nhân trẻ, tuổi dưới 40, nghiện thuốc
lá nặng. Bệnh kéo dài nhiều năm, nhưng cuối cùng đều phải đoạn chi nhất là chi
dưới với tỉ lệ lên đến 95% sau 5 năm mắc bệnh. Bệnh nhân nếu bỏ được thuốc lá
tình trạng bệnh sẽ tốt lên nhiều.

Bệnh động mạch ngoại vi thứ hai hay gặp nhất là tình trạng
viêm và tắc động mạch do xơ vữa động mạch, xảy ra ở những người bị bệnh cao
huyết áp và có rối loạn chuyển hóa mỡ. Tổn thương xảy ra ở lớp nội mạc với
những mảng xơ vữa làm hẹp lòng động mạch, gây thiếu máu ngoại vi.

Các triệu chứng ban đầu của bệnh còn khá mơ hồ. Thường thì
bắt đầu bằng tình trạng đi lặc cách hồi. Tức là bệnh nhân đi một đoạn vài trăm
mét thì đau nhói sau bắp chân, cơn đau khiến bệnh nhân phải ngồi nghỉ khoảng 5
– 10 phút sau hết đau và bệnh nhân có thể đi lại. Các cơn đau ngày càng tăng
lên, đến một lúc nào đó bệnh nhân đau ngay cả khi nghỉ ngơi và xuất hiện những
vết loét, hoại tử của chi…

Bệnh có thể phòng ngừa được bằng cách không hút thuốc lá,
nhất là ở những gia đình đã có người bị bệnh Buerger. Điều trị tốt tình trạng
xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa mỡ, chống béo phì và điều trị tốt đái
tháo đường nếu có.

Bệnh van tim hậu thấp tim

Bệnh van tim hậu thấp rất hay xảy ra ở những vùng khí hậu ẩm
ướt, nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam. Trước kia, do quá trình phòng
bệnh chưa tốt nên tỉ lệ người Việt Nam mắc bệnh thấp tim khá cao trên
thế giới.

Dân gian thường nói câu: viêm họng là tìm đến khớp, khớp đớp
tim và tim thì tìm gan để nói về mối tương quan của bệnh thấp tim. Bệnh do có
nguyên nhân do tình trạng nhiễm vi trùng Streptococus beta Hemolytique. Khi bị
nhiễm loại vi trùng này, cơ thể sẽ sản sinh ra một loại kháng thể chống lại nó.
Mà bản thân các kháng nguyên là loại vi trùng lại có cấu trúc gần giống với cấu
trúc của mô khớp và van tim. Nên khi kháng thể tấn tông tiêu diệt vi trùng nó
cũng tấn công làm tổn thương mô khớp và van tim luôn, làm cho khớp bị sưng lên,
còn van tim thì biến dạng gây ra hẹp hở van tim. Từ đó đưa đến suy tim, ứ huyết
tại gan và làm suy chức năng gan như dân gian thường nói.

Bệnh thường xảy ra ở những phụ nữ trẻ, sau tình trạng viêm
họng có sốt là tình trạng mệt, khó thở… nếu không điều trị đúng có thể đưa đến
suy tim và tử vong. Việc điều trị bệnh van tim hậu thấp cũng khá phức tạp và
tốn kém cho bệnh nhân vì van tim bị tổn thương trước kia hay sử dụng phẫu thuật
nong van với dụng cụ, ngày nay các trung tâm phẫu thuật tim đều tiến hành mổ
tim mở với sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể.

Bệnh hoàn toàn có thể đề phòng được bằng cách cải thiện môi
trường sống ngay khi còn nhỏ. Tránh lạnh quá, nóng quá, nhà của và cơ quan làm
việc phải sạch sẽ, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, điều trị triệt để các bệnh
mũi xoang. Nếu đã bị thấp tim phải sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm vi trùng
Streptococus beta hemolytique đến năm 25 tuổi. Có thể sử dụng thuốc uống mỗi
ngày, hay sử dụng loại Penicilline có tác dụng chậm mỗi tháng tiêm một lần.

Bệnh tim bẩm sinh

Cho đến hiện nay, bệnh tim bẩm sinh là bệnh hay gặp nhất ở
Việt Nam.
Các chuyên gia tim mạch ước tính rằng: có khoảng 1 – 2% các em bé sinh ra mắc
bệnh tim bẩm sinh từ nhẹ nhất như là còn ống động mạch, đến nặng nhất là hoán
vị đại động mạch… Ước tính rằng có khoảng trên 50 tổn thương tim bẩm sinh. Hiện
tại luôn có khoảng hơn 100 ngàn trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh đang chờ mổ và cho
dù có hàng chục trung tim mổ tim mở ra đời cũng không bao giờ giải quyết hết
được.

Bệnh thường biểu hiện bằng tình trạng khó thở, hay bị viêm
phổi, tím tái và đứa trẻ thường bị suy dinh dưỡng nặng. Ngày xưa khi mà phương
tiện chẩn đoán còn thô sơ chỉ với cái ống nghe thì việc xác định bệnh tim bẩm
sinh đôi khi hơi khó. Ngày nay với sự ra đời và phát triển của siêu âm màu về
tim mạch thì việc phát hiện bệnh tim bẩm sinh và thể loại tim bẩm sinh đơn giản
hơn nhiều.

Việc phòng ngừa chủ yếu là người mẹ và người cha. Cha và mẹ
phải có sức khoẻ tốt, không lớn tuổi mới sinh con, trong quá trình mang thai,
nhất là 3 tháng đầu người mẹ không được tiếp xúc với hóa chất độc hại, X-quang,
nhiễm siêu vi đặc biệt là bệnh rubeon.

Phình động mạch chủ bóc tách

Phình động mạch chủ bóc tách, nhất là phình động mạch chủ
ngực, là một biến chứng rất nặng của phình động mạch chủ. Bệnh nhân có thể bị
đau ngực dữ dội đến ngất đi. Có nhiều trường hợp bệnh nhân tử vong ngay trong
giai đoạn bệnh mới bắt đầu.

Nguyên nhân vẫn là xơ vữa động mạch. Ở những bệnh nhân này ở
một vùng yếu của thành động mạch chủ như quai động mạch chủ ngực, phần dưới
động mạch thận của động mạch chủ bụng sẽ phình ra, tạo cục máu đông gây tắc
lòng động mạch, hoặc tạo sự bóc tách làm thành hai luồng thông và nặng hơn là
vỡ túi phình gây tử vong.

Phình động mạch chủ bóc tách hoặc vỡ túi phình động mạch chủ
cho tỉ lệ tử vong khá cao, lên đến 95% nếu bệnh nhân đang ở nhà. Việc mổ thay
quai động mạch chủ cũng là một phẫu thuật rất lớn cần phải có máy tim phổi nhân
tạo và tỉ lệ thành công cũng chỉ khoảng 40 – 50% mà thôi.

Bệnh viêm cơ tim

Bệnh viêm cơ tim có thể gây ra tình trạng đột tử. Bệnh có
thể xảy ra ở những người khoẻ mạnh trước đó không hề bị bệnh tim. Khi cơ thể
mệt mỏi các loại siêu vi trùng xâm nhập vào cơ thể tấn công lên cơ tim nhất là
siêu vi trùng loại Coxacki. Ngoài ra có thể bị viêm cơ tim do hóa chất, do sự
tăng quá nhiều của hoóc-môn tuyến giáp… Ở những bệnh nhân này, tình trạng viêm
cơ tim có thể đưa đến suy tim và bệnh nhân bị tử vong nếu không phát hiện ra và
không được điều trị.

Việc phòng ngừa chủ yếu là giữ cho cơ thể thỏe mạnh, khi hơi
mệt cần phải đi kiểm tra tim mạch ngay, không làm việc quá sức và nhất là không
để nhiễm các loại hóa chất. nếu có bệnh bướu cổ cường giáp với nồng độ hoóc-môn
tuyến giáp cao thì cần phải điều trị triệt để.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

LEAVE A REPLY