Để hạn chế rủi ro tử vongbệnh tim, Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) khuyến cáo nhóm người có tiền sử mắc bệnhtim cần làm một số xét nghiệm, thử test dưới đây.

1. Đo mức canxi của tim

Đo mức canxi của tim (CardiaeCalcium Scoring) hay còn gọi là phép chấm điểm canxi tim. Trong kỹ thuật này,người ta dùng máy quét CT để kiểm tra các mảng xơ vữa động mạch (tạo ra từcanxi, cholesterol và mô sẹo). Chỉ số canxi giúp bác sĩ chẩn đoán được nhữngcơn đau tim xảy ra trong tương lai. Theo đó, các mảng xơ vữa vôi hóa, chính làdấu hiệu cảnh báo sớm trước 10 năm trước khi diễn ra cơn đau tim. Nhờ phép đonày người ta có thể ăn uống, thay đổi lối sống để giảm các mảng xơ vữa bám vàothành động mạch. Nhóm người trên 50 hoặc những người có tiền sử gia đình mắcbệnh tim nên đi khám kỹ thuật trên. Những người có chỉ số canxi trên 400 thìrủi ro mắc bệnh đau tim trong vòng 10 năm rất cao, nếu trên 1.000 thì rủi ro mắc bệnh tim trongvòng 1 năm là 25% nếu không điều trị. Những người có chỉ số canxi trên 200 nênthay đổi lối sống, ăn uống khoa học, dùng thuốc giảm mỡ máu hoặc nếu mắc bệnhđái tháo đường thì điều trị đồng thời các loại bệnh này.

2. Thăm dò độ dày lớp nộitrung mạc động mạch cảnh

Đây là phép “siêu âm cổ” đểcó hình ảnh của động mạch cảnh bên phải và trái cổ, nơi đảm nhận việc cung cấpmáu tới cho não. Sau khi bôi gel lên cổ, người ta dùng đầu dò siêu âm lướt trêncác động mạch cổ để đo độ dày lớp niêm mạc cảnh động mạch, thời gian khoảng 15phút. Các nhà khoa học đã tìm thấy mối liên quan mật thiết giữa độ dày lớp nộimạc động mạch cảnh với bệnh động mạch vành, nó cho biết sớm nguy cơ tắc nghẽnmáu dẫn lên não. Những người trên 40 hoặc trẻ hơn nếu có tiền sử gia đình mắc bệnh tim nên đo thửbằng kỹ thuật nói trên. Độ dày lớp niêm mạc động mạch cảnh bình thường là dưới1,06mm, nếu vượt ngưỡng trên bác sĩ cho phương án điều trị hoặc khuyến cáo ănuống, luyện tập để giảm mỡ máu, huyết áp, nếu mắc bệnh đái tháo đường thì nênđiều trị để đưa lượng đường huyết về ngưỡng hợp lý.

3. Phép thử nghiệm CRP

Xét nghiệm CRP (High Sensitivity C-Reactive Protein Test) làphép thử máu quan trọng để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh tim. CRP là một chấtphản ứng ở giai đoạn cấp được gan sản xuất và bài tiết vào máu sau vài giờ viêmnhiễm. Mức CRP có thể tăng vọt hàngnghìn lần để phản ứng với hiện tượng viêm nhiễm và biết được chỉ số này giúptheo dõi và quản lý rủi ro bệnh tim, viêm đại tràng, bệnh tự miễn, bệnh ruộtthừa… Người có chỉ số CRP cao và béobụng (trên 90cm) thì nguy cơ rủi ro mắc bệnh tim cao gấp 4 lần so với nhữngngười có mức CRP bình thường. Nhóm ngườitrên 40 tuổi, hoặc có tiền sử mắc bệnh tim, mỡ máu cao, nghiện thuốc lá, tiềnsử gia đình mắc bệnh mạch thì nên đi kiểm tra càng sớm càng tốt. Nếu chỉ số CRPdưới 1,0mg/lít máu là bình thường, từ 1 – 3mg/lít máu có rủi ro mắc bệnh trungbình và trên 3 được xem là có rủi ro mắc bệnh cao. Về điều trị, bác sĩ có thểkê đơn dùng thuốc statin, luyện tập để giảm cân, riêng phụ nữ có chỉ số CRP caokhông được chủ quan vì đây là rủi ro mắc bệnh tim rất lớn.

4. Phép thử lipid vàlipoprotein tiến triển

Không giống phép thửcholesterol truyền thống chỉ đo được cholesterol toàn phần, HDL, LDL vàtriglycerides, phép thử ALPLT được xem là phép xét nghiệm cao hơn, biết đượccác loại mỡ máu ở kích thước hạt siêu nhỏ bám vào thành động mạch, thậm chíchúng còn “trà trộn” thẩm thấu vào lớp lót thành động mạch và tạo ra mảng bựagây tắc nghẽn thành mạch máu. Phép xét nghiệm máu lipoprotein có thể phân tíchđược các dạng cholesterol đặc trưng và dự báo sớm nguy cơ mắc bệnh tim. Nhữngai có các hạt “mỡ máu” to thì ít bị bệnh tim nhưng nếu nhiều các hạt nhỏ thìrủi ro mắc bệnh rất cao. Chỉ số lipoprotein càng cao thì các hạt LDL (mỡ máuxấu) càng nhiều, kết dính càng mạnh vào lớp lót thành động mạch nên rủi ro mắcbệnh rất lớn. Sau khi xét nghiệm, bác sĩ sẽ dựa vào thực tế để cấp thuốc làm tokích thước của các hạt mỡ máu lên, như dùng fenofibrate (TriCor hoặc Trilippix)hay niacin (vitamin B3), đồng thời kếthợp với ăn uống khoa học và năng luyện tập.

5. Phép xét nghiệm gluco máuA1c

Phép thử Hemoglobin A1c chobiết nhanh kết quả lượng đường huyết, giúp người ta biết nguy cơ mắc bệnh đáitháo đường. Những người từ 45 tuổi trở ra, nhất là nhóm người có tiền sử giađình mắc bệnh đái tháo đường, bản thân mắc bệnh đái tháo đường khi mang thaithì nên đi thử, tần suất 2 năm/lần. Nếu nhẹ có thể dùng ăn uống khống chế đườnghuyết ở mức phù hợp mà không cần dùng thuốc. Nhóm người trên 45 béo phì, dưthừa trọng lượng hoặc có lượng mỡ máu như tryglycerides cao hoặc mỡ máu tốt(HDL) thấp thì nên đi xét nghiệm này. Nếu A1c từ 4,5 và 6 thì bình thường, từ 6và 6,4 là tiền đái tháo đường và trên 6,5 được xem là đã mắc bệnh.

6. Phép thử di truyền

Thử di truyền (Genetic Test)là phép thử máu để phát hiện các đột biến của gen KIF6 và APOE, đây là 2 biếnthể gen mà người ta tình nghi bị bệnh tim mạch rất tiềm ẩn. Những người trên 40tuổi trở ra nên đi làm xét nghiệm này. Theo nghiên cứu gần đây cho biết, nếu cóbiến thể gen KIF6 thì việc điều trị bằng Statin có hiệu quả, giảm tới 41% rủiro mắc bệnh tim so với những người không có gen này. Nhưng nếu mang gen APOEthì thay đổi lối sống, ăn uống, đặc biệt là dùng thực đơn giàu mỡ bão hòa mứcthấp sẽ có tác dụng ngoài ra kết hợp ăn uống khoa học và dùng thuốc giảm mỡ máucũng có tác dụng tích cực.

7. Phép siêu âm tim gắng sức

Siêu âm tim gắng sức (StressEchocardiography) là phép thử quan trọng để đánh giá lưu lượng máu đi tới cácngăn tim trước và sau khi luyện tập, đồng thời để kiểm tra mức độ tắc nghẽnđộng mạch cung cấp máu tới cho tim. Độ chính xác của kỹ thuật này là 85% đốivới phụ nữ và giúp bác sĩ biết sớm mức độ mắc bệnh để có phác đồ điều trị thíchhợp như dùng thuốc hay stent. Bất kể tuổi tác, nếu có các dấu hiệu mắc bệnh timnhư khó thở đau ngực, đau cổ thì nên làm phép siêu âm này.

KHẮC HÙNG

Theo Prevention – 9/2012