(SKDS) – Ðến tháng 9/2012 là tròn 20 năm thành lập Quỹ Fred Hollows (The Fred Hollows Foundation – FHF), cũng là ngần ấy năm FHF có mặt tại Việt Nam và sát cánh cùng ngành nhãn khoa Việt Nam trong công cuộc phòng chống mù lòa, tạo ra một cuộc cách mạng cho nhãn khoa Việt Nam…

Từ một lời hứa…

Năm 1992, GS. Fred Hollows là một người nổi tiếng tại Úc. Fred muốn giúp đỡ các nước nghèo bên ngoài nước Úc, mà theo ông, cái nghèo không thể ngăn người ta tiếp cận những thành quả của y học hiện đại. Ông chủ trương phổ biến phương pháp mổ đục thể thủy tinh (TTT) có đặt thể thủy tinh nhân tạo (IOL) ra các nước đang còn nghèo với chi phí thấp. Tháng 4/1992, Fred dù đang bệnh nặng, vẫn đến Việt Nam để tìm hiểu về tình hình chữa trị bệnh đục thủy tinh thể. Ông thấy rằng đội ngũ phẫu thuật viên nhãn khoa của Việt Nam rất nhiệt thành và đầy tiềm năng. Trong một cuộc gặp tại Hà Nội, trước nhiều cánh tay đưa lên tỏ rõ quyết tâm ham học hỏi, Fred đã hứa: “Tất cả những gì các bạn cần chỉ là được huấn luyện và có đủ trang thiết bị, rồi các bạn sẽ mổ được!”. Ông hứa sẽ trở lại sau 3 tháng để bắt đầu khóa đào tạo.

 “Tại sao những người Việt bị đục thủy tinh thể không thể tiếp cận kỹ thuật phẫu thuật đục thủy tinh thể hiện đại chỉ vì họ sống ở một nước thuộc thế giới thứ ba?” GS. Fred Hollows, 1992

Ðịnh hướng tương lai của FHF Việt Nam

• Mở rộng Dự án chăm sóc mắt cộng đồng đến vùng sâu vùng xa và các tỉnh miền núi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

• Phối hợp với đối tác để hỗ trợ nâng cao năng lực đào tạo tại các trường đại học Y các vùng như Thái Bình, Huế, Cần Thơ, Tây Nguyên…

• Mở rộng hoạt động chữa trị những loại bệnh khác, ví dụ như bệnh võng mạc do đái tháo đường.

• Hỗ trợ Ban chỉ đạo Quốc gia PCML Trung ương và các tỉnh, cùng hướng đến mục tiêu của Tầm nhìn 2020.

Theo kế hoạch Fred sẽ trở lại Việt Nam tháng 7/1992. Nhưng vào tháng 6, bác sĩ phát hiện một khối u ung thư khác trong người ông cần phải mổ ngay. Dù còn rất yếu, ông tập hợp một nhóm phẫu thuật viên Úc là Stephanie Young, Hugh Taylor, bác sĩ nhãn khoa hàng đầu Nepal Sanduk Ruit và bác sĩ Joe Dalzell để cùng đến Việt Nam.

Tháng 8/1992, đoàn của Fred đến Viện Mắt TW ở Hà Nội để mở khóa đào tạo. Họ lắp đặt các thiết bị, cải biến lại phòng mổ, và cứ thế, họ huấn luyện cho 10 bác sĩ nhãn khoa.

Sau đó, Fred trở về Úc và ngày càng yếu đi, ông mất vào tháng 2/1993. Quỹ Fred Hollows non trẻ được thành lập (tháng 9/1992) – với nhiệm vụ đầu tiên là làm thế nào để tiếp tục việc đào tạo mổ TTT tại Việt Nam?

Tháng 9/1993, đoàn của bác sĩ Jamie La Nauze, cùng David Moran và Stephanie Young, với bác sĩ Ruit đã đến TP Hồ Chí Minh để huấn luyện cho một nhóm phẫu thuật viên mới phía Nam. Một chương trình hợp tác chính thức với Viện Mắt TW với tên gọi “Dự án phòng chống mù lòa Việt Nam” được bắt đầu từ năm 1993. Chương trình đào tạo trong 7 năm và hoàn thành vào tháng 6/1999, giúp đào tạo được 322 bác sĩ phẫu thuật trên khắp Việt Nam; 32 người trở thành những người dạy mổ giỏi.

Mô hình “huấn luyện người- huấn luyện” này sau đó đã trở thành cách thức đào tạo phẫu thuật đặc trưng của FHF ở các quốc gia khác, như Pakistan và Trung Quốc.

Giáo sư Tôn Thị Kim Thanh, Phó chủ tịch Hội nhãn khoa Việt Nam, nguyên giám đốc của Bệnh viện Mắt TW, từng ví chương trình đào tạo như một “Cuộc cách mạng trong nhãn khoa Việt Nam”. Trước năm 1992, mỗi năm chỉ có 1.000 ca mổ TTT hiện đại được thực hiện tại Việt Nam. Đến năm 2000, con số này đã là 80.000 ca. Hiện nay, mỗi năm có khoảng 200.000 ca phẫu thuật đục TTT hiện đại được thực hiện tại Việt Nam. “Đây là thành công lớn nhất và đóng vai trò quan trọng nhất trong công tác phòng chống mù lòa ở Việt Nam” – GS. Thanh, người từng là một học viên của GS. Fred thời ấy cho biết. Và nhờ đó, qua 20 năm, hàng trăm ngàn người mù tại Việt Nam đã được trả lại ánh sáng, từ một lời hứa của GS. Fred Hollows một năm trước ngày ông mất.

Ðến sự kề vai sát cánh

Kế hoạch của Quỹ nhằm đào tạo tất cả bác sĩ nhãn khoa Việt Nam về kỹ thuật phẫu thuật đục TTT hiện đại đã vướng phải khá nhiều chỉ trích trong giới chăm sóc sức khỏe mắt quốc tế.  Cơ quan quốc tế về phòng chống mù lòa (IAPB) cho rằng việc đưa phẫu thuật TTT hiện đại đến các nước đang phát triển vừa tốn phí quá cao mà lại không đảm bảo an toàn.  Nhưng chương trình của FHF đã chứng minh điều ngược lại.

Giáo sư James E. Standefer – một bác sĩ nhãn khoa người Mỹ – đã viết về ấn tượng của ông trong tờ Nhãn Khoa Quốc Tế (International Ophthalmology Update – Tháng 10/1995). Ông nhận ra rằng hầu hết các ca phẫu thuật đục thủy tinh thể (ĐTTT) ở Việt Nam sử dụng kỹ thuật hiện đại (mổ ĐTTT ngoài bao – ECCE và đặt thủy tinh thể nhân tạo) – đều được thực hiện với trình độ tay nghề cao. Ông ca ngợi thiết kế của chương trình, khi các bác sĩ không chỉ được đào tạo trong môi trường riêng của họ mà còn được sở hữu bản quy trình phẫu thuật chuẩn, một chiếc kính hiển vi và nguồn cung thủy tinh thể nhân tạo. Nhờ vào đó, các bác sĩ phẫu thuật có thể bắt đầu sử dụng kĩ thuật mới ngay lập tức. Ông đánh giá chương trình đào tạo của FHF tại Việt Nam là một “dự án nổi bật và đầy tham vọng”, trở thành hình mẫu cho các nước đang phát triển khác.

 H’Nhi, 5 tuổi, bị đục thủy tinh thể bẩm sinh và cuộc sống quanh em đang tối dần từng ngày. Nếu không được chữa trị trước 7 tuổi, bệnh ĐTTT ở trẻ em có thể để lại di chứng vĩnh viễn. H’Nhi được Quỹ hỗ trợ phẫu thuật ĐTTT thông qua chương trình “Vì ánh mắt trẻ thơ” ở Phú Yên, thuộc vùng Nam Trung bộ Việt Nam. H’Nhi bây giờ làm được tất cả những việc mà các bạn em ở trường vẫn làm, và em có thể nhìn rõ em trai mình lần đầu tiên trong đời.

Cuối năm 1999, khi Quỹ đã hoàn thành lời hứa của Fred về một chương trình quốc gia đào tạo phẫu thuật ĐTTT hiện đại, thì cũng mở ra một giai đoạn mới vươn đến cộng đồng, vượt xa những bước đi ban đầu. 

Từ năm 2000, Quỹ đã mở rộng các hoạt động của mình sang lĩnh vực chăm sóc mắt cộng đồng. Bên cạnh việc tiếp tục đào tạo các bác sĩ nhãn khoa, Quỹ hiện còn đào tạo cả các nhân viên chăm sóc mắt và điều dưỡng, kỹ thuật viên. Ngoài ra, còn làm việc và vận động các nhà lãnh đạo chính quyền và y tế tăng cường các dịch vụ y tế về mắt và đảm bảo mọi người nghèo có thể tiếp cận phẫu thuật ĐTTT.

BS. Huỳnh Tấn Phúc – Giám đốc quốc gia FHF Việt Nam hiện nay cho biết “Bây giờ chúng tôi có rất nhiều hoạt động ở bệnh viện và cả ở cộng đồng. Chúng tôi cũng tác động đến hệ thống chăm sóc mắt – từ cấp tỉnh, huyện đến cộng đồng nói chung; đào tạo nhân viên ở tất cả các cấp, đồng thời nâng cao nhận thức trong cộng đồng về chăm sóc sức khỏe mắt nhằm ngăn ngừa các vấn đề từ khi chúng chưa kịp xảy ra”.

Việc bổ nhiệm bác sĩ Phúc làm Giám đốc vào năm 2003 đã mang lại một sức sống mới cho chương trình của Quỹ tại Việt Nam. Chương trình đã phát triển nhanh chóng để trở thành một trong những chương trình lớn nhất của Quỹ, là tổ chức đi đầu trong công tác phòng chống mù lòa tại Việt Nam, hiện đang có dự án tại 20/64 tỉnh, thành trên cả nước. Trong khi rất nhiều các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam tránh xây dựng mới hoặc nâng cấp bệnh viện bởi những dự án này khá khó quản lí, FHF đã đặt ưu tiên vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng vì những công nghệ chăm sóc mắt mới đòi hỏi phải có cơ sở tương xứng.

Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Giám đốc Bệnh viện Mắt TW, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế là người đã làm việc chặt chẽ với Fred trong hai chuyến Fred đến Việt Nam. Ông cho biết, Quỹ Fred Hollows đã thiết lập một mạng lưới phòng chống mù lòa phạm vi rộng để mỗi một bệnh nhân đều có thể tiếp cận với dịch vụ chăm sóc mắt chất lượng cao ngay tại nơi họ sống. Còn BS.Phúc luôn tin rằng FHF không thể làm tốt công việc nếu không có sự đóng góp của các đối tác trong lĩnh vực chăm sóc mắt tại Việt Nam, cũng như toàn bộ đội ngũ nhân viên của Quỹ. Ông còn chia sẻ thêm:“Chúng tôi luôn cảm thấy thật hạnh phúc được là một phần của Quỹ Fred Hollows, và luôn nỗ lực không ngừng để trả lại ánh sáng cho nhiều người hơn nữa.”

 Ðan Ngọc

LEAVE A REPLY