Ở Việt Nam, bệnh lý tĩnh mạch rất  thường gặp nhưng chưa thực sự có được sự chú
ý của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Cho đến nay chưa có một thống kê đầy đủ về
loại bệnh này. Tuy nhiên, theo dự đoán của các chuyên gia y tế bệnh sẽ gia tăng
cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta. Việc
phát hiện và điều trị sớm bệnh có ý nghĩa quan trọng…

Ở các nước tiên tiến như châu
Âu, Mỹ, bệnh lý tĩnh mạch rất thường gặp. Theo các thống kê ở Pháp, bệnh suy
tĩnh mạch mạn tính chiếm đến 1% ở nam giới và 4,5% nữ giới ở tuổi trưởng thành,
trong đó có hơn 70% là nữ và khoảng 35% ở những người đang làm việc.

Ảnh minh họa

Nguyên nhân gây suy tĩnh mạch

Máu di chuyển trong lòng tĩnh
mạch theo chiều từ nông vào sâu và từ dưới lên trên nhờ hệ thống van mở ra khi
máu đi về trung tâm đóng lại không cho máu chảy ngược và lực hút do hoạt động
của cơ hoành, sức hút của tim, áp lực âm vùng trung thất cùng lực đẩy do hoạt
động của hệ thống cơ. Tùy theo vị trí và nguyên nhân của tổn thương bệnh giãn
tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm:

– Nhóm giãn tĩnh mạch tiên
phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: trong nhóm này, ban đầu các tĩnh
mạch bị giãn và dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

– Nhóm giãn tĩnh mạch thứ
phát, thường do viêm tĩnh mạch: ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng
trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra.

– Giãn tĩnh mạch ở người có
thai, do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn ép của tử cung bị to ra
khi có thai.

– Giãn tĩnh mạch bẩm sinh,
nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và dò
động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).

Biến chứng của giãn tĩnh mạch

Trước tiên là các biến chứng
về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau
buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.

Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị
viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.

Giai đoạn cuối cùng có thể
diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh giãn rất lớn, ứ
trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm
trùng rất khó điều trị.

Cục thuyên tắc có thể tách
rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến
chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

Các yếu tố nguy cơ

Trên thực tế không phải người
nào cũng có khả năng bị bệnh này, chỉ có một số người thuộc nhóm có nguy cơ cao
là hay bị. Di truyền là mẫu số chung cho những bệnh nhân này, trong thực hành
bệnh viện hàng ngày chúng tôi nhận thấy có một số người về di truyền dễ bị mắc
bệnh hơn những người khác, nguyên nhân do những thay đổi về enzyme trong mô
liên kết. Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai
nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt
như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.

Tăng trọng quá mức cũng là
một yếu tố nguy cơ vì lực tác động từ phía trước để hút máu về bị giảm và các
dòng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng.

Chủng tộc có ít nhiều ảnh
hưởng đến bệnh này trừ khi chúng được kết hợp với sự phát triển về kinh tế và
thay đổi cách sống. Tại Pháp, cộng đồng người dân di cư đến từ các nước vùng
bắc Phi rất hay bị bệnh giãn tĩnh mạch, đa số họ đều là những người dân nghèo,
sống trong những điều kiện vật chất thiếu kém và phải làm những việc nặng nhọc,
đứng lâu, nhiệt độ cao ở vùng chân: nội trợ, giặt quần áo, thợ dệt, tài xế…

Thuốc ngừa thai do sử dụng
nội tiết tố nên cũng là một yếu tố nguy cơ như thai nghén.

Phẫu thuật có thể gây ra biến
chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật vùng tiểu
khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa các thủ thuật khác như bó bột,
bất động lâu trong gãy xương… tuy nhiên gần đây tầm quan trọng của yếu tố nguy
cơ này đã giảm bớt.

Những bệnh ăn theo chế độ ăn
kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

Các triệu chứng chính

Theo một thống kê nghiên cứu
đa trung tâm do Đại học Y Dược TP.HCM chủ xướng: đa số bệnh nhân (77,6%) không
hề biết về bệnh tĩnh mạch trước đó. Điều này nói lên thực trạng về bệnh lý tĩnh
mạch ở nước ta, trong đó chủ yếu là bệnh nhân ít quan tâm, ngại đi khám, thầy
thuốc coi nhẹ và bỏ sót các triệu chứng. Trong đó 91,3% số bệnh nhân không được
điều trị và 8,7% được điều trị không đúng phương pháp chủ yếu là sử dụng các
loại thuốc chữa triệu chứng như aspirin, lợi tiểu hoặc các loại thuốc Đông y.

Các triệu chứng thường gặp
nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm với cảm giác nặng, chuột
rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao buổi tối khi
đi ngủ. Về sau các triệu chứng nặng dần và xuất hiện các mảng rối loạn dinh
dưỡng trên da và các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn ngoèo, có thể có những đợt
viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi
khô lưỡi dơ và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong lòng xuất hiện những cục
thuyên tắc cứng…

Chẩn đoán suy tĩnh mạch

Việc xác định chẩn đoán chủ
yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn
ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.

Sờ để biết được độ cứng của
phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên. Ngoài ra, có
thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định
nhiệt độ của da.

Với các thầy thuốc chuyên
khoa có thể áp dụng một số thủ thuật để đánh giá tình trạng của các van tĩnh
mạch hiển trong như: thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg
và thủ thuật Perthe.

Cuối cùng, chẩn đoán được xác
định bằng siêu âm Doppler màu mạch máu, với phương pháp này cho phép chúng ta
xác định được những rối loạn huyết động học, tình trạng của các van tĩnh mạch,
mức độ giãn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong lòng mạch để từ đó có
thái độ điều trị đúng đắn.

Điều trị bệnh suy tĩnh mạch
mạn tính

Có 5 phương pháp điều trị
chính nhằm kiểm soát hay chặn đứng sự trào ngược, loại bỏ trào ngược từ các
tĩnh mạch nhánh và từ các mạch nối, cuối cùng là ngăn ngừa sự tràn ngập mô kẽ
do dịch thấm ra từ các vi quản.

– Phòng ngừa: phương pháp này
nhằm chặn đứng sự  trào ngược và làm cho
các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn. Bao gồm: để chân cao
khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn
chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tránh béo phì,
tập hít thở sâu, ăn chế độ có nhiều chất xơ để tránh táo bón…

– Băng ép nhằm phục hồi áp
suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống
xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ
ngơi cũng như khi gắng sức.

– Điều trị nội khoa với các
thuốc làm bền thành mạch như Daflon, Rutin C, Veinamitol… nhưng phần lớn chỉ có
tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc chuyên khoa
còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch
máu.

– Phẫu thuật với hai phương
pháp chính: lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn gọi là phương pháp Stripping bằng
một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm lòng gà và
phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là
phương pháp điều trị khá triệt để có tỉ lệ tái phát thấp nhất.

– Hiện nay người ta còn áp
dụng phương pháp làm lạnh với Nitơ lỏng âm 900C để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua
một ống thông trong lòng tĩnh mạch, tuy nhiên phương pháp này cho tỉ lệ tái
phát khá cao đến 30% các trường hợp.

Việc điều trị bệnh suy tĩnh
mạch mạn tính chi dưới đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, phẫu thuật và tập
vật lý trị liệu tại các trung tâm chuyên sâu về bệnh này như bệnh viện Đại học
Y dược, các khoa phẫu thuật mạch máu tại một số bệnh viện lớn khác.

Cần phải phát hiện sớm

Muốn điều trị có kết quả,
phải phát hiện sớm bệnh khi mà suy tĩnh mạch còn ở giai đoạn 1 – 2. Việc phát
hiện ra bệnh sớm, không chỉ hoàn toàn dựa vào người thầy thuốc mà mỗi người
trong chúng ta phải tự mình tìm hiểu cơ thể mình để xem có bị bệnh suy dãn tĩnh
mạch hay không?

Các triệu chứng sớm của bệnh
suy tĩnh mạch mạn tính thường:

– Mỏi chân, nhất là khi đi
lại hay đứng nhiều.

– Sưng phù mắt cá chân: phù
xung quanh mắt cá và thấy rõ vào buổi tối. Khi thấy sưng phù, có thể bạn đã bị
dãn tĩnh mạch với biểu hiện là các đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên da.

– Chuột rút về đêm.

– Cảm giác như có kiến bò và
ngứa chân.

Khi có các dấu hiệu trên, bản
thân chúng ta hay chúng ta phải tư vấn cho những người có các triệu chứng như
vậy cần đi khám ở một bác sĩ chuyên khoa về tĩnh mạch học để được cho làm siêu
âm Doppler màu tĩnh mạch vì đây là một xét nghiệm về chẩn đoán hình ảnh cơ bản
cho kết quả chẩn đoán chính xác nhất.

Lời kết

Chúng ta phòng bệnh giãn tĩnh
mạch bằng các phương pháp rất đơn giản như tránh béo phì, tránh đứng lâu, tránh
táo bón và làm tăng sức bền của thành mạch máu bằng tập thể dục, ăn các thức ăn
giàu vitamin nhiều chất xơ…

 PGS TS.BS  NGUYỄN HOÀI NAM

LEAVE A REPLY