Cùng với xu thế phát triển chung của khoa học – kinh tế –  xã hội, ngành niệu khoa Việt Nam cũng đã có những bước chuyển mình đáng tự hào, đóng góp vào thành tựu chung của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Và trên bước đường phát triển ấy có nhiều thách thức mới mà chúng ta cần vượt qua.

Những chuyển biến trong hoạt động khám chữa bệnh niệu khoa

Trong những năm qua, hoạt động khám chữa bệnh tại nước ta có những chuyển biến lớn do nhiều nguyên nhân. Trong lĩnh vực niệu khoa, những nguyên nhân đó có thể được kể như sau:

Chuyển biến trong cơ cấu bệnh lý

Với sự phát triển kinh tế xã hội, dân số chúng ta đang già đi. Do đó những bệnh tật do tuổi già như bướu lành tuyến tiền liệt, ung thư tuyến tiền liệt ngày càng nhiều hơn. Ngoài 50 tuổi, tỷ lệ nam giới mắc bướu lành tuyến tiền liệt là 40%, ngoài 70 tuổi là 65% và ngoài 80 tuổi, tỷ lệ đó sẽ là 80%. Dân số già đi khiến số người mắc bệnh này ngày càng gia tăng.
 
 Lọc huyết tương bằng kỹ thuật cao tại BV Bạch Mai.

Ngoài ra, chất lượng sống là việc những người cao tuổi lưu tâm hơn khi tình hình kinh tế ổn định hơn. Cách đây 10 năm, họ dễ dàng chấp nhận phẫu thuật dù biết có ảnh hưởng đến hoạt động tình dục, nhưng ngày nay thì một số không ít người sẽ bắt bác sĩ cân nhắc dùm việc ấy. Ung thư tuyến tiền liệt có một chuyển biến rõ nét hơn nữa vì chỉ xuất hiện ở người có tuổi và xuất hiện nhiều hơn với những đối tượng có khẩu phần đạm động vật cao hơn.

 
Năm 1990, số liệu ung thư đường tiết niệu được xếp theo thứ tự: ung thư bàng quang, ung thư thận, ung thư tuyến tiền liệt, thì năm 2000, thứ tự đó đã là ung thư bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt, và ung thư  thận, năm 2010 là  ung thư tuyến tiền liệt, ung thư bàng quang, ung thư thận. Việc tầm soát ung thư tuyến tiền liệt đã phổ biến không những đến các bác sĩ lão khoa, đa khoa mà một bộ phận cộng đồng dân chúng đã có ý thức thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng.
 
Dù sỏi đường tiết niệu vẫn còn chiếm hàng đầu trong các hoạt động chuyên môn của bác sĩ niệu khoa (và cả đa khoa). Nhưng sự thay đổi trong cơ cấu cũng rất đáng lưu ý. Chúng ta càng ngày càng ít gặp sỏi san hô lớn vì đa số bệnh nhân đã được chẩn đoán và điều trị từ sớm nhờ phương tiện siêu âm đã “phủ sóng” đến tận các tuyến y tế cơ sở. Sỏi bàng quang là loại bệnh ngày càng ít gặp hơn nữa.
 
Năm 1993, khi thành lập Hội Niệu khoa Á châu, PGS. Nguyễn Kỳ và chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe các đồng nghiệp trong vùng phát biểu rằng ngày càng ít gặp sỏi bàng quang khi tình hình kinh tế khá lên. Nay thì đúng như vậy và đó là niềm vui cho chúng ta.

Chấn thương đường tiết niệu ngày càng nhiều khi phát triển về giao thông. Chúng ta sẽ ít gặp dần các chấn thương niệu đạo trước do ngã, ngày càng ít gặp vết thương và di chứng do hỏa khí vì chiến tranh đã được để lại sau lưng từ lâu. Nhưng những tai nạn giao thông do phương tiện cơ giới, do tai nạn lao động ngày càng gây ra nhiều chấn thương thận và xương chậu nặng nề hơn.

Các bệnh lý nhiễm trùng đường tiết niệu đối diện với những vấn đề xã hội khi quan niệm sống về tình dục có thay đổi. Chúng ta phải đối phó nhiều hơn với bệnh lây lan qua đường tình dục, nhiễm HIV.

Một số loại bệnh hiếm gặp như bệnh lý bẩm sinh ngày càng được phát hiện sớm hơn nên chúng ta có cảm giác tỷ lệ loại bệnh này nhiều hơn, nhất là hẹp cổ bể thận, nang thận, u tuyến thượng thận…

Chuyển biến trong các phương pháp điều trị kỹ thuật cao

Việc phát triển các phương pháp điều trị ít xâm lấn trong niệu khoa tại nước ta khởi đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX. Từ những máy tán sỏi ngoài cơ thể, cắt đốt nội soi bướu lành tuyến tiền liệt, tán sỏi niệu quản qua ống nội soi; thoạt tiên chỉ có tại các trung tâm Niệu khoa là Bệnh viện Bình Dân thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Hà Nội.
 
Các phương pháp trên đã nhanh chóng nhân rộng ra các tỉnh thành trong cả nước. Ngày nay chúng ta có trên 60 máy tán sỏi ngoài cơ thể tạo thành một mạng lưới toàn quốc. Hầu hết các tỉnh thành đều có trang bị cắt đốt nội soi và tán sỏi nội soi niệu quản. Thậm chí có nhiều huyện cũng trang bị và có cán bộ y tế được đào tạo bài bản để thực hiện. Ngày nay, những phẫu thuật mổ hở điều trị sỏi còn rất ít và đều có định hướng trang bị và đào tạo.
 
Năm 2002, những trường hợp phẫu thuật nội soi trong tiết niệu lần đầu được báo cáo thì chỉ 8 năm sau, loại hình phẫu thuật này đã được nhân rộng trên hầu hết các khoa niệu của các tỉnh, thành phố. Từ những phẫu thuật đơn giản như giải quyết nang thận, nay thì các nhà niệu học của nước ta đã thành thục trong những phẫu thuật tầm cỡ thế giới như cắt tận gốc tuyến tiền liệt trong ung thư qua nội soi, cắt tận gốc ung thư bàng quang và tạo hình ruột qua nội soi, cắt thận người cho qua nội soi để ghép thận.

Và những thách thức mới

Song song với những thành tựu của sự phát triển chúng ta có thêm một số lưu ý sau:

– Sự phát triển đồng đều từ trung ương đến địa phương, từ công lập đến dân lập, cả dân y và quân y được thành công do ba hoạt động. Hoạt động chỉ đạo tuyến hiệu quả từ các trung tâm lớn. Hoạt động đào tạo từ các trường viện. Hoạt động khoa học của Hội Thận Tiết Niệu Việt Nam. Một điều khá lý thú là trong ngành Tiết niệu, ba hoạt động nói trên hòa quyện với nhau khá hiệu quả.
 
 Các bác sĩ BV Bạch Mai đang thực hiện ca ghép thận.

Trong hội nghị khoa học của Hội đều có các lớp đào tạo cho hội viên, và trong hoạt động chỉ đạo tuyến, các bác sĩ đi tuyến đều lôi kéo các địa phương vào sinh hoạt Hội. Hiệu quả của việc kết hợp này là dù cho bệnh lý Niệu là bệnh lý thuộc loại nhiều nhất, nhưng chúng ta ít khi phải giải quyết bài toán quá tải tại các trung tâm Niệu khoa lớn vì đa số các địa phương đã được đào tạo và trang bị tốt để giải quyết bệnh cho cộng đồng dân cư tại chỗ.

 
– Việc phát triển các kỹ thuật cao cũng cần phải được chọn lọc và cân nhắc. Chúng ta phải giải bài toán có nhiều ẩn số. Một mặt, phải đảm bảo cho bệnh nhân được thụ hưởng những thành tựu y học sẵn có tại nước ta không phải ra nước ngoài hoặc phải mổ hở vô lý. Mặt khác, phải lưu ý đến những chi phí không cần thiết làm tăng gánh nặng kinh phí cho ngành.
 
Nhiều chuyên gia nước ngoài đã ngạc nhiên khi với những thiết bị vừa phải, chi phí hợp lý mà chúng ta vẫn thực hiện được những phẫu thuật kỹ thuật cao cấp cho bệnh nhân Việt Nam. Ngoài ra, cũng cần phải hết sức tỉnh táo khi tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật du nhập từ nước ngoài vì đôi khi chúng ta vẫn tiếp xúc với những quảng cáo chỉ đem lợi nhuận không về cho bệnh nhân.

– Việc áp dụng kỹ thuật cao chỉ được thực hiện thực sự có hiệu quả trên nền tảng hệ thống săn sóc sức khỏe ban đầu thật tốt. Phát hiện bệnh sớm thì bệnh nhân càng có cơ hội được điều trị ít xâm lấn hơn. Hội chuyên ngành là điểm tựa cho các cơ quan quản lý y tế, cơ quan bảo hiểm y tế đưa ra những chính sách quản lý bệnh tật dựa trên những phác đồ điều trị có tính toàn quốc.

PGS.TS. Vũ Lê Chuyên
(Chủ tịch Hội thận – tiết niệu Việt Nam)

LEAVE A REPLY